Hiển thị các bài đăng có nhãn Người Khmer. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Người Khmer. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 22 tháng 5, 2017

Tại sao Phật giáo Khmer không ăn chay?

Bàn về quan niệm ăn chay cùng xuất xứ của nó hiện tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Mà rõ rệt nhất là sự khác biệt giữa Phật giáo Khmer (theo truyền thống Nguyên thủy) không có quan niệm ăn chay và Phật giáo Cách tân Đại thừa chủ trương ăn chay. Và vì sự không hiểu nhau, đã làm nhiều người cảm thấy lạ và thậm chí "sửng sốt" khi thấy một vị sư Khmer thọ thực.
Trong bài viết này, tôi sẽ không bàn về sự đúng sai mà chỉ phân tích Quan điểm về ăn chay của Phật giáo Nguyên Thủy, cụ thể là Phật giáo Khmer để chúng ta hiểu hơn về Văn hóa đặc trưng của nhánh tôn giáo này.
Ảnh minh họa - Nguồn: daophatngaynay.com
1. Ăn chay có tự bao giờ?
Việc thực hành ăn chay là một nét đặc thù của Phật Giáo Cách tân Đại Thừa Trung Hoa, bắt đầu từ thời Hòa Thượng Vân Thê Châu Hoằng (1565-1615), vào triều đại nhà Minh, và do người Việt nằm trong dòng chảy Văn hóa Trung Hoa nên đã tiếp nhận tất cả những tinh hoa Phật giáo của người Trung Hoa. Trước đó Phật Giáo Trung Hoa cũng không đặt vấn đề ăn chay - mặn là việc quan trọng cho sự tu hành. Và cũng cần lưu ý rằng, trong 227 giới của tỳ kheo (Phái Nguyên Thủy), 250 giới của tỳ kheo (Phái Cách tân) không hề có giới nào cấm ăn thịt.
2. Quan niệm về vật thực trong Phật giáo Nguyên thủy:
Thời còn tại thế, Đức Phật và chư tăng đi khất thực, thập phương bá tánh cúng dường thức ăn gì thì các ngài thọ thức ấy không phân biệt chay với mặn. Theo Phật giáo Nguyên thủy, việc ăn chay không có mặt trong thời Đức Phật tại thế và chính Đức Phật cũng không thực hành việc ăn chay. Do đó, Phật giáo Nguyên thủy chủ trương ăn cách nào cũng được, tuỳ duyên trong ăn uống sao cho có đủ sức khoẻ để hành trì giáo pháp. Phật giáo Nguyên thủy không đặt thành vấn đề ăn chay, ăn mặn vì “sự giải thoát không phải do nơi ăn, mà là do nơi thanh tịnh ba nghiệp thân - khẩu - ý”.
 Ảnh minh họa - Nguồn: Nga Tra Vinh
Bữa ăn hàng ngày của chư tăng tùy thuộc vào những gì mà lòng hảo tâm của thập phương bá tánh cúng dường
3. Do đặc thù của truyền thống khất thực:
Phật giáo Nguyên thủy là một nhánh tôn giáo giữ nguyên truyền thống có từ thời Đức Phật, trong đó có truyền thống KHẤT THỰC.
Như đã đề cập ở trên, khi hàng Chư Tăng đi khất thực, bữa ăn hàng ngày của các ngài tùy thuộc vào những gì mà lòng hảo tâm của thập phương bá tánh cúng dường "đặt bát".
Theo truyền thống, các ngài không được phép đòi hỏi Phật tử cúng dường món này hay món khác, không đòi hỏi món rau hay món thịt, các ngài lặng lẽ nhận với tâm bình thản và không phân biệt bất luận thứ gì mà bá tánh hoan hỷ cúng dường. Thực phẩm chỉ để nuôi mạng sống (ngoại trừ những thức ăn ngoài "ngũ tịnh nhục" không được Đức Phật cho phép ăn).
Thời gian thọ thực của các ngài rất nghiêm ngặt, là chỉ được thọ thực sau khi mặt trời đã mọc đến trước giờ ngọ (tức từ khoảng 6 giờ sáng đến 12 giờ trưa), từ sau ngọ đến sáng hôm sau các ngài CHỈ ĐƯỢC UỐNG NƯỚC CHỨ KHÔNG ĐƯỢC ĂN bất cứ vật thực nào.
Ngày nay Phật giáo Nguyên thủy tại một số thành phố lớn như tpHCM, tại Mỹ và châu âu, là những cộng đồng mà các vị Chư Tăng không thể đi khất thực được, việc thọ thực tùy thuộc hoàn toàn vào các nhóm cư sĩ Phật tử hoan hỷ hỗ trợ các ngài. Các Phật tử tự ý đi chợ mua sắm rồi nấu nướng dâng đến các ngài thọ trai.
Không chỉ người Khmer, mà người Thái, Myan, Lào, Srilanka và tất cả dân tộc theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy đều tiếp tục duy trì truyền thống này. Họ tin rằng bản thân họ không tự mình sát sinh, không khích lệ người khác sát sanh, không tùy hỷ sự sát sanh và do đó không phạm giới sát sinh.
4. Quan niệm về "chúng sinh" cũng là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau về quan niệm ăn chay:
Chúng ta thường phân chia chúng sinh làm hai loại: (1) chúng sinh hữu tình là các loài có tình thức, biết cử động, biết đi, biết bơi, biết bò, biết bay, là các loài động vật nói chung (bao gồm cả con người), (2) chúng sinh vô tình là những sinh vật không nằm trong nhóm trên. Cỏ, cây, san hô... là những sinh vật có sự sống nhưng không được xếp vào hàng chúng sinh hữu tình vì chúng không có giác quan (?), không có hệ thần kinh, không có biểu hiện của ngũ ấm, không có cảm xúc, tư tưởng, hành nghiệp... Vì thế, nếu ăn các loài động vật thì được gọi là ăn mặn và nếu ăn các loài thực vật được gọi là ăn chay.
Cũng vì nhận thức như thế mà chúng ta cứ nghĩ, việc giết một con bò phải được xem là một hành động tội lỗi lớn hơn rất nhiều việc bứt tử ngọn cỏ vì con bò là sinh vật hữu tình, thân mình to hơn và biết cảm giác đau đớn...
Quan điểm của chúng ta là vậy, nhưng thật chất cây cỏ có vô tình hay không? Không ai dám chắc. Kinh Phật dạy rằng “mười phương cây cỏ cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác...”. Và một số nghiên cứu khoa học hiện đại cũng cho biết cây cỏ cũng có linh hồn tình thức.
Kinh Phật cũng dạy rằng, "mọi chúng sinh đều bình đẳng", không có sự phân biệt giữa thấp - cao, giữa tốt - xấu hay giữa hữu tình và vô tình. Sát sinh là đoạn diệt sự sống của chúng sinh. Vậy nên, họ không còn quan niệm cho rằng việc giết đi sinh mạng của một con bò là ác hơn việc bứt tử một ngọn cỏ. Suy rộng ra, không phải chỉ có những người giết mổ thịt hoặc đánh bắt cá mới là phạm giới sát sinh mà những người giết hại cây cỏ hoa lá cũng không khác...
Đó là quan điểm của những vị tu sĩ Phật giáo Nguyên thủy, tâm của các ngài không còn sự phân biệt, không còn vướng mắc, chấp trước vào chuyện ăn uống. Ăn thịt hay ăn rau đối với các ngài chỉ là để nuôi thân và hành đạo.
Trên đây tôi lướt qua quan điểm của Phật Giáo Nguyên Thủy về vấn đề ăn chay. Họ tin rằng "việc ăn" chỉ để duy trì sự sống, ăn chay hay mặn không phải là điều quan trọng trong việc hành trì Phật Pháp. Họ tin rằng việc dính mắc không dính mắc trong tâm tưởng mới là điều quan yếu, khi tâm quá dính mắc vào các ý niệm thiện ác hay ăn chay mặn là mang vào mình sự bất an vì e sợ không biết hành động của mình có sai, có tạo nên ác nghiệp không? Cũng như bài kinh Amagandha mà Đức Phật giảng cho Jivaka nghe rằng "phẩm hạnh xấu xa của người làm tội bằng nhiều cách khác nhau, còn tệ hại hơn là ăn thịt cá nhiều." Họ nghĩ rằng những điều làm cho con người bất tịnh chẳng phải là ở nơi ăn thịt, mà là ở nơi lòng oán hận, mê tín, gian xảo, đố kỵ, kiêu căng, và xu hướng theo đường bất chính mà ra.
Nói tóm lại, Phật giáo Nguyên Thủy tin tưởng rằng, không có một giới luật khắt khe nào trong Phật giáo nói là tín đồ của Đức Phật không nên ăn thịt và bắt tất cả người Phật tử phải ăn chay. Họ cũng tin rằng, Đức Phật chỉ khuyên là KHÔNG NÊN LIÊN QUAN vào việc sát sanh có dụng ý hoặc không nên yêu cầu người khác giết bất cứ chúng sanh nào cho mình ăn.
Khổng Seyla

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

Ramvong - Điệu múa Khmer truyền thống không bao giờ lỗi mốt

Ramvong (រាំវង់) là một điệu nhạc truyền thống của người Khmer được sử dụng trong nghệ thuật quần chúng, xuất hiện và phổ biến trong các bài hát dân tộc Khmer từ nhiều thế kỷ nay. Điệu Ramvong không chỉ được sử dụng trong các ca khúc nhạc cổ điển mà cũng phổ biến trong các nhạc phẩm khác của âm nhạc Khmer hiện đại, tuy nhiên hầu hết các bài hát điệu Ramvong đều có đặc tính chung là đậm chất dân ca, giai điệu đều đều, lên xuống nhẹ nhàng, khá nhanh, lời ca vần và dễ thuộc, chủ đề đơn giản, tính chất vui tươi, ít có tính hình tượng và mang tính triết lý không cao.
Ramvong là một "dòng nhạc" lớn mà từ nó đã phát triển thành nhiều điệu nhạc biến thể nổi tiếng khác. Các bài hát Khmer theo dòng nhạc Ramvong là vô số kể, bài hát Việt thì ít hơn, có thể kể đến như Điệu Lâm Thôn Trà Vinh, Sok Sabay Sóc Trăng, Trà Vinh Ok Ombok, Ok Ombok quê em hay Cùng Em Điệu Sarikakeo... Ngoài là dòng nhạc đặc trưng của cộng đồng người Khmer, điệu Ramvong cũng xuất hiện khá phổ biến trong các văn hóa chịu ảnh hưởng của nền văn minh Angkor cổ như Thái, Myan, Lào và cộng đồng người Hmong, người Môn...
Ảnh minh họa - nguồn: kntnews.com
Ngày nay, dù các dòng nhạc của Phương Tây đã thâm nhập sâu vào cộng đồng nhưng vẫn không thay thế được dòng Ramvong cổ điển, Ramvong vẫn đang được cộng động Khmer yêu thích và ngày càng phát triển hơn nữa.
Về nhạc cụ, ban đầu nhạc Ramvong ra đời dựa trên nền tảng là dàn nhạc Ngũ âm (Phleng Pinpeat), về sau do sự phổ biến của âm nhạc phương tây đã ảnh hưởng ít nhiều đến Ramvong truyền thống; ngày nay, Ramvong là dòng nhạc dựa trên sự tiếp xúc giữa điệu nhạc truyền thống Khmer với các nhạc cụ phương Tây - sự pha trộn giữa loại nhạc chủ yếu dựa vào nhạc đệm của ghitar điện, trống, solo trộn lẫn với những loại nhạc cụ truyền thống của người Khmer như: đàn cò, chpey dongveng...
Đi đôi với nền nhạc Ramvong là điệu múa Ramvong nổi tiếng, còn gọi là điệu múa Lâm Thôn. Điệu múa Ramvong có nghĩa là "Điệu múa theo vòng tròn", từng cặp đôi trai gái vừa múa vừa quay lại nhìn nhau thể hiện sự thân mật và đi theo một vòng tròn khép kín.
Cũng như các điệu khiêu vũ của Phương Tây, khi tiếng nhạc nổi lên, người con trai thường chủ động mời bạn gái của mình lên cùng múa. Các động tác của các cô gái thường mềm mại, nhẹ nhàng thể hiện sự dịu dàng, duyên dáng và kín đáo của nữ nhân; trong khi các chàng trai với động tác khỏe khoắn, hai tay dang rộng hơn, vừa thõa mãn sự vui tươi vừa thể hiện sự mạnh mẽ, sẳn sàng che chở và bảo vệ người phụ nữ của mình.
Ảnh minh họa - nguồn: kntnews.com
Khi tham gia múa trong một sự kiện nào đó, người tham gia múa phải tuân theo một số nguyên tắc nhất định, chẳng hạn như các thanh niên nhỏ tuổi, địa vị thấp hơn sẽ ra múa trước, sau đó mới tiến đến mời các vị quan khách, người có địa vị và người lớn tuổi ra múa giao lưu cùng. Theo nhịp trống, đội hình múa di chuyển càng nhiều vòng, động tác múa càng nhanh hơn. Khi trống ngừng, mọi người cùng dừng lại chắp tay chào nhau (Sampeah) rồi trở về vị trí của mình.
Xem thêm Sampeah - Nghi thức chào hỏi truyền thống của người Khmer
Nhạc Ramvong nhẹ nhàng vui tươi cùng với điệu múa Ramvong đơn giản và gần gũi nên ai ai (dù không phải là người Khmer) cũng có thể dễ dàng hòa chung không khí tại các buổi biểu diễn của người Khmer. Ramvong xưa nay là một sinh hoạt mang tính cộng đồng, nó đã trở thành phổ biến trong sinh hoạt cộng đồng của người Khmer, mà ngày nay cũng đang dần thâm nhập vào đời sống người Việt và người Hoa ở Trà Vinh.
Có lẽ Ramvong nên tự hào vì chính nó là một trong những dòng nhạc cổ điển thịnh hành nhất của người Khmer từ nhiều thế kỷ đến nay; tuy không quá hoa mỹ, nhưng đủ để tạo cảm hứng; và làm cho người nghe có cảm giác dễ chịu khi thưởng thức. Điệu múa cơ bản không quá sành điệu nhưng chưa bao giờ lỗi mốt giúp cho nó luôn được cộng đồng đón nhận dù ở thời đại nào.
Viết bởi Khổng Seyla

Xem thêm Trường ĐH Trà Vinh xếp ở vị trí thứ 14 trong Top 100 trường ĐH tốt nhất VN

Thứ Hai, 27 tháng 3, 2017

Sampeah - Nghi thức chào hỏi truyền thống của người Khmer

Đối với người Phương Tây, họ chào nhau bằng cách bắt tay, trả lễ cho nhau bằng nụ cười. Đối với người Nhật thì họ chào nhau bằng hành động cúi gập đầu để tỏ sự tôn kính lẫn nhau. Còn đối với người Khmer thì chắp tay Sampeah là lối văn hóa ứng xử truyền thống rất được xem trọng, và là hành động thể hiện phép lịch sự tối thiểu của một con người.
Sampeah - Một nghi thức chào hỏi truyền thống của người Khmer
Dân tộc Khmer là một dân tộc coi trọng lễ nghi và thứ bậc xã hội, đối với người Khmer việc đánh giá một con người không chỉ dựa vào trình độ học vấn, cách nói chuyện mà còn dựa vào cử chỉ, thái độ mà người đó thể hiện có nhã nhặn và đúng quy cách hay không.
Khi gặp nhau, người Khmer thường sẽ chào nhau mở đầu bằng câu nói: “ជំរាបសួរ - Chumreap Suor”. Đồng thời chắp 2 tay khép lại với nhau như một búp sen đặt trước ngực, sau đó cúi đầu nhẹ nhàng cùng với nụ cười thân thiên trên môi. Từ “Chumreap” có ý nghĩa “tôn kính”, được dùng thường xuyên khi người Khmer chào hỏi, chia tay hoặc tạm biệt lẫn nhau. Và đôi khi, chúng ta cũng có thể dùng Sampeah để xin lỗi khi chúng ta vô tình bước lên chân hoặc chạm vào vết thương của ai đó. Sampeah là một hành động chân thành nhất chứ không phải xin lỗi xã giao.

 Cúi nhưng không hạ mình
Xem thêm Chùa Hang - Nơi hành hương và điểm du lịch "đáng đến" nhất Trà Vinh
Người Khmer có quan niệm xem phần đầu là bộ phận thiêng liêng và cao quý nhất. Còn hoa sen được xem là loài hoa biểu trưng của đức Phật, loài hoa của lòng chân thành và sự tôn kính cao độ. Vì vậy, hành động chắp tay cúi đầu chào trước một ai đó chính là nhằm thể hiện sự chân thành sâu sắc xuất phát từ tâm hồn của chúng ta, chứ không phải là chào hỏi xả giao đơn thuần như văn hóa bắt tay của phương Tây.

Tùy vào tuổi tác và thứ bậc của người đối diện mà có cách Sampeah khác nhau
Sampeah là một trong những nguyên tắc hành xử truyền thống rất đẹp. Song để thực hiện động tác chắp tay cúi đầu chào chính xác theo truyền thống Khmer theo từng trường hợp thì khá phức tạp. Việc đặt tay ngang đâu, cúi đầu thấp đến mức nào, trong thời gian bao lâu phụ thuộc vào địa vị xã hội, tuổi tác, kinh nghiệm và vị trí công việc. Và, vì thế người ta chia Sampeah ra làm nhiều loại tuỳ vào thời điểm và trường hợp. Chẳng hạn:
- Người nhỏ tuổi hơn sẽ vái chào trước, còn người lớn tuổi hơn sẽ đáp lại bằng cái cúi chào nhẹ nhàng và chắp tay thấp hơn.
- Người trẻ tuổi thể hiện lòng kính trọng với người lớn tuổi hay người có địa vị đáng kính trọng khác thì sẽ cúi đầu cho đến khi phần mũi chạm vào tay. Phụ nữ thường sẽ hơi nhún đầu gối khi vái chào thể hiện sự khiêm tốn, nết na và dịu dàng (đây cũng được xem là một trong số đức hạnh của người con gái Khmer - charya sambat robos satrey Khmer).
- Phần mũi của bàn tay sẽ được đưa lên cao hơn phần lông mày, chạm đến phần trán chỉ trong trường hợp vái lạy chư tăng hay chào các nhân vật lớn, Quốc kỳ, biểu tượng của Hoàng gia...
- Thông thường, khi được vái chào thì chúng ta cũng phải vái chào đáp lễ. Những người ngang hàng chỉ cần chắp tay và cúi nhẹ đầu để đáp lại. Chỉ khi giữa hai bên có khoảng cách rất lớn về tuổi tác hay địa vị mới không phải cúi chào, chẳng hạn: ông bà - cha mẹ thì không vái đáp trả đối với con cháu hay trẻ nhỏ, Các vị sư sẽ không vái đáp lại khi các tín đồ vái chào…etc
Tuy nhiên, không phải cứ nhìn thấy nhau là người ta lại hành lễ như vậy, thông thường chỉ lần gặp đầu tiên trong ngày, chúng ta sẽ cúi chào theo đúng chuẩn, còn những lần gặp tiếp theo chúng ta chỉ cần khẽ gật đầu và mỉm cười chào nhau là được, để khỏi phiền phức và tốn thời gian.
Hành động Sampeah thể hiện cả một nền văn hóa trọng thượng của dân tộc Khmer: Cúi nhưng không hạ mình. Sự nhún nhường đó chỉ làm tăng thêm sự nể trọng của người đối diện, nên các bạn đừng ngại thể hiện điều đó ngay cả khi các bạn đang sống trong một cộng đồng có văn hóa khác biệt.
Viết bởi Khổng Seyla (27.5.2015)

Xem thêm Trường ĐH Trà Vinh xếp ở vị trí thứ 14 trong Top 100 trường ĐH tốt nhất VN

Bệnh viện Đa Khoa Minh Tâm (Minh Tam Hospital)

Bệnh viện đa khoa Minh Tâm tọa lạc tại số 36 Nguyễn Đáng, P.9, TP Trà Vinh . Đây là một bệnh viện ngoài công lập nổi tiếng tại Trà Vinh được...